tl tap huan chuan KT-KN GDTX 2011

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Văn Niền
Ngày gửi: 08h:43' 23-08-2011
Dung lượng: 18.4 MB
Số lượt tải: 14
Nguồn:
Người gửi: Bùi Văn Niền
Ngày gửi: 08h:43' 23-08-2011
Dung lượng: 18.4 MB
Số lượt tải: 14
Số lượt thích:
0 người
MỘT SỐ LƯU Ý KHI PHÂN TÍCH CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG
TRONG BÀI HỌC CỦA CHƯƠNG TRÌNH GDTX CẤP THPT ĐỂ TÌM KHÁI NIỆM VÀ THIẾT KẾ CÂU HỎI KIỂM TRA
Trình bày:
TS. Đỗ Anh Dũng – CVC
Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo
ĐT: 0903433118; E mail: dadung@moet.eud.vn
NỘI DUNG
PHẦN MỘT
I. Đặt vấn đề
II. Một số lưu ý khi phân tích chuẩn KT-KN trong bài học của chương trình GDTX cấp THPT để tìm khái niệm và thiết kế câu hỏi kiểm tra
Tìm được các khái niệm trong bài
Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức
NỘI DUNG
PHẦN HAI
Thảo luận nhóm:
Tìm được các khái niệm trong bài
Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức
(Theo SGK Sinh học THPT)
I. Đặt vấn đề
Trong quá trình dạy - học môn Sinh học cấp THPT, tại một số nhà trường đã và đang có một số khó khăn cho người dạy, người học như:
Lượng kiến thức trong Sách giáo khoa nhiều và có khá nhiều nội dung khó, trong khi đó thời lượng dạy và học trên lớp có giới hạn;
Xây dựng hệ thống mối liên hệ các nội dung kiến thức (khái niệm, quá trình sinh học, quy luật sinh học, cơ chế sinh học,…) của một bài, một chương hoặc một phần trong chương trình Sinh học cấp THPT chưa thực sự hợp lý và hiệu quả dẫn đến một thực tế “học trước quên sau” của người học còn khá phổ biến;
I. Đặt vấn đề
Dạy - học một khái niệm, quá trình sinh học, quy luật sinh học, cơ chế sinh học,…tại một bài cụ thể, một số người dạy găp khó khăn xác định và phân biệt kiến thức cũ, kiến thức mới và kiến thức cần phát triển trong chương trình ? Bên cạnh đó, một số người dạy còn lúng túng xác định mức độ nhận thức về kiến thức cụ thể trong chương trình cho đối tượng người học cụ thể, dẫn đến tình trạng một số người học “chán học”;
Thiết kế đề kiểm tra cho bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kỳ, thi thử tốt nghiệp,…chưa thực sự phù hợp.
I. Đặt vấn đề
Vậy làm thế nào để giải quyết các vấn đề khó khăn và phức tạp trên ? Để giải quyết được những vấn đề này, sự cần thiết phải có những những giải pháp đồng bộ như nghiên cứu việc cắt giảm một số nội dung có trong Sách giáo khoa; phân biệt rõ giữa việc dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng và dạy học bám sát Chuẩn kiến thức, kỹ năng chương trình GDTX cấp THPT môn Sinh học, từ đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cấp quản lý giáo dục có hướng dẫn cụ thể để các cơ sở giáo dục yên tâm thực hiện,…
II. Một số lưu ý khi phân tích chuẩn KT-KN trong bài học của chương trình GDTX cấp THPT để tìm khái niệm và thiết kế câu hỏi kiểm tra
Tìm được các khái niệm trong bài
Khái niệm là “thức ăn” của tư duy ?
Các khái niệm cũ học sinh đã được học ở những bài nào trước đó;
Các khái niệm mới;
Các khái niệm cần phát triển trong chương trình
2. Tìm trong bài học những kiến thức liên quan đến thực tiễn đời sống; cách vận dụng những kiến thức đó trong thực tiễn.
3. Cách thực hiện như nào ?
Đối với người dạy
Đối với người học
4. Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức trong bài học
4.1 Yêu cầu của đề kiểm tra
Đảm bảo mục tiêu dạy học ; bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ ở các mức độ đã được quy định trong chương trình môn học, cấp học.
Đảm bảo tính chính xác, khoa học.
Phù hợp với thời gian kiểm tra.
Đánh giá chính xác, khách quan, công bằng trình độ, năng lực học sinh.
4. Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức trong bài học
4.2. Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra
Bloom đã xây dựng các cấp độ của mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân loại Bloom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất.
4. Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức trong bài học
Nhận biết:
Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây. Điều đó có nghĩa là một người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp. Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức thể hiện ở cho học sinh có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật. một hiện tượng. Học sinh phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng.
Có thể cụ thể hóa mức độ nhận biết
bằng các phương thức:
Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất.
Nhận dạng (không cần giải thích) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản.
Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố.
Thông hiểu:
Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, sự vật ; giải thích được, chứng minh được ; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà học sinh đã học hoặc đã biết. Điều đó có thể thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng).
Có thể cụ thể hóa mức độ thông hiểu
bằng các phương thức:
Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân về khái niệm, định lí, định luật, tính chất, chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ, từ lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại).
Biểu thị, minh hoạ, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, định nghĩa, định lí, định luật.
Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó.
Sắp xếp lại lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic.
Vận dụng:
Là khả năng sử dựng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới :
Vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra ;
Là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó. Yêu cầu áp đụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định lí, định luật, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn. Đây là mức độ thông hiểu cao hơn mức độ thông hiểu trên.
Có thể cụ thể hóa mức độ vận dụng bằng các phương thức
So sánh các phương án giải quyết vấn đề.
Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được.
Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm, định lí, định luật, tính chất đã biết.
Khái quát hoá, trừu tượng hoá từ tình huống quen thuộc, tình huống đơn lẻ sang tình huống mới, tình huống phức tạp hơn.
Phân tích :
Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.
Yêu cầu chỉ ra được các bộ phận cấu thành, xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận, nhận biết và hiểu được nguyên lí cấu trúc của các bộ phận cấu thành. Đây là mức độ cao hơn vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật, hiện tượng.
Có thể cụ thể mức độ phân tích bằng các phương thức
Phân tích các sự kiện, dữ kiện thừa, thiếu hoặc đủ để giải quyết được vấn đề.
Xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận trong toàn thể.
Cụ thể hoá được những vấn đề trừu tượng.
Nhận biết và hiểu được cấu trúc các bộ phận cấu thành.
Tổng hợp:
Là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới.
Yêu cầu tạo ra được một chủ đề mới, một vấn đề mới. Một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ do phân lớp thông tin). Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh vào các hành vi sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới.
Có thể cụ thể hoá mức độ tổng hợp bằng các phương thức
Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh.
Khái quát hoá những vấn đề riêng lẻ cụ thể.
Phát hiện các mô hình mới đối xứng, biến đổi, hoặc mở rộng từ mô hình đã biết ban đầu.
Đánh giá:
Là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức. Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng. Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định. Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích) và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí.
Yêu cầu xác định dược các tiêu chí đánh giá và vận dụng được để đánh giá. Đây là mức độ cao nhất của nhận thức vì nó chứa đựng các yếu tố của mọi mức độ nhận thức trên.
Có thể cụ thể hoá mức độ đánh giá bằng các phương thức
Phân tích những yếu tố, dữ kiện đã cho để đánh giá sự thay đổi về chất của sự vật, sự kiện.
Nhận định nhân tố mới xuất hiện khi thay đổi các mối quan hệ cũ.
Đánh giá, nhận định giá trị của các thông tin, tư liệu theo một mục đích yêu cầu xác định.
Xác định được các tiêu chí đánh giá khác nhau và vận dụng để đánh giá thông tin, sự vật, sự kiện.
Các dạng trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm đúng - sai
Trắc nghiệm điền khuyết
Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Người ta thường dùng trắc nghiệm nhiều lựa chọn để làm đề thi cho các kỳ thi có đông thí sinh và cần chấm bằng máy với tốc độ cao.
Đặc điểm nhận biết: là trắc nghiệm bao gồm hai phần
- Phần mở đầu (phần dẫn) : Nêu vấn đề và cách thực hiện, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu câu hỏi.
Phần thông tin: Nêu các câu trả lời (các phương án) để giải quyết vấn đề, trong các phương án này, học sinh phải chỉ ra được phương án đúng (các phương án được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D).
Đề trắc nghiệm nhiều lựa chọn phải đảm bảo
Chỉ nên dùng 4 phương án chọn.
Có một phương án chọn là đúng.
Phương án đúng phải được sắp xếp theo thứ tự ngẫu nhiên.
Các phương án sai phải hợp lí.
Câu dẫn nối liền với mọi phương án chọn theo đều phải đúng ngữ pháp.
Tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là phủ định hai lần.
Không nên có phương án "Không phương án nào trên đây đúng" hoặc "Mọi phương án trên đây đều đúng".
Không tạo phương án đúng khác biệt so với các phương án khác (dài hơn hoặc ngắn hơn, mô tả tỉ mỉ hơn,...).
Không tạo các phương án nhiễu ở mức độ cao hơn so với phương án đúng.
Không đưa quá nhiều thông tin không thích hợp vào trong phần dẫn tạo nên sự hiểu lệch yêu cầu.
Thảo luận nhóm (45 phút)
Tìm được các khái niệm trong một bài cụ thể và phân biệt:
Khái niệm cũ
Khái niệm mới
Khái niệm cần phát triển trong chương trình
Thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn theo 3 mức độ nhận thức (Bloom):
Nhận biết (1 câu)
Thông hiểu (1 câu)
Vận dụng (1 câu)
(Theo SGK Sinh học THPT)
KẾT LuẬN
Xuất phát từ quan điểm Khái niệm là “thức ăn” của tư duy, người học có thể nhận thức được từng khái niệm cụ thể có trong chương trình theo các mức độ nhận thức (06) từ thấp đến cao.
Đối với người học của chương trình GDTX cấp THPT, đặc biệt chú ý đến 3 mức độ:
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Thảo luận nhóm (45 phút)
Nghiên cứu Bài 1. Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi để:
Liệt kê các khái niệm sinh học trong bài ?
Phân loại các khái niệm thành các nhóm:
Khái niệm HS đã biết (được học ở các bài cũ)
Khái niệm mới
Khái niệm cần được phát triển ở trong chương trình
Thảo luận nhóm (45 phút)
3. Tìm trong bài học những kiến thức liên quan đến thực tiễn đời sống; cách vận dụng những kiến thức đó trong thực tiễn ?
4. Thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn theo 06 mức độ khác nhau ?
TRONG BÀI HỌC CỦA CHƯƠNG TRÌNH GDTX CẤP THPT ĐỂ TÌM KHÁI NIỆM VÀ THIẾT KẾ CÂU HỎI KIỂM TRA
Trình bày:
TS. Đỗ Anh Dũng – CVC
Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục
Bộ Giáo dục và Đào tạo
ĐT: 0903433118; E mail: dadung@moet.eud.vn
NỘI DUNG
PHẦN MỘT
I. Đặt vấn đề
II. Một số lưu ý khi phân tích chuẩn KT-KN trong bài học của chương trình GDTX cấp THPT để tìm khái niệm và thiết kế câu hỏi kiểm tra
Tìm được các khái niệm trong bài
Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức
NỘI DUNG
PHẦN HAI
Thảo luận nhóm:
Tìm được các khái niệm trong bài
Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức
(Theo SGK Sinh học THPT)
I. Đặt vấn đề
Trong quá trình dạy - học môn Sinh học cấp THPT, tại một số nhà trường đã và đang có một số khó khăn cho người dạy, người học như:
Lượng kiến thức trong Sách giáo khoa nhiều và có khá nhiều nội dung khó, trong khi đó thời lượng dạy và học trên lớp có giới hạn;
Xây dựng hệ thống mối liên hệ các nội dung kiến thức (khái niệm, quá trình sinh học, quy luật sinh học, cơ chế sinh học,…) của một bài, một chương hoặc một phần trong chương trình Sinh học cấp THPT chưa thực sự hợp lý và hiệu quả dẫn đến một thực tế “học trước quên sau” của người học còn khá phổ biến;
I. Đặt vấn đề
Dạy - học một khái niệm, quá trình sinh học, quy luật sinh học, cơ chế sinh học,…tại một bài cụ thể, một số người dạy găp khó khăn xác định và phân biệt kiến thức cũ, kiến thức mới và kiến thức cần phát triển trong chương trình ? Bên cạnh đó, một số người dạy còn lúng túng xác định mức độ nhận thức về kiến thức cụ thể trong chương trình cho đối tượng người học cụ thể, dẫn đến tình trạng một số người học “chán học”;
Thiết kế đề kiểm tra cho bài kiểm tra 15 phút, 1 tiết, học kỳ, thi thử tốt nghiệp,…chưa thực sự phù hợp.
I. Đặt vấn đề
Vậy làm thế nào để giải quyết các vấn đề khó khăn và phức tạp trên ? Để giải quyết được những vấn đề này, sự cần thiết phải có những những giải pháp đồng bộ như nghiên cứu việc cắt giảm một số nội dung có trong Sách giáo khoa; phân biệt rõ giữa việc dạy học theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng và dạy học bám sát Chuẩn kiến thức, kỹ năng chương trình GDTX cấp THPT môn Sinh học, từ đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cấp quản lý giáo dục có hướng dẫn cụ thể để các cơ sở giáo dục yên tâm thực hiện,…
II. Một số lưu ý khi phân tích chuẩn KT-KN trong bài học của chương trình GDTX cấp THPT để tìm khái niệm và thiết kế câu hỏi kiểm tra
Tìm được các khái niệm trong bài
Khái niệm là “thức ăn” của tư duy ?
Các khái niệm cũ học sinh đã được học ở những bài nào trước đó;
Các khái niệm mới;
Các khái niệm cần phát triển trong chương trình
2. Tìm trong bài học những kiến thức liên quan đến thực tiễn đời sống; cách vận dụng những kiến thức đó trong thực tiễn.
3. Cách thực hiện như nào ?
Đối với người dạy
Đối với người học
4. Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức trong bài học
4.1 Yêu cầu của đề kiểm tra
Đảm bảo mục tiêu dạy học ; bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ ở các mức độ đã được quy định trong chương trình môn học, cấp học.
Đảm bảo tính chính xác, khoa học.
Phù hợp với thời gian kiểm tra.
Đánh giá chính xác, khách quan, công bằng trình độ, năng lực học sinh.
4. Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức trong bài học
4.2. Xác định các mức độ nhận thức trong đề kiểm tra
Bloom đã xây dựng các cấp độ của mục tiêu giáo dục, thường được gọi là cách phân loại Bloom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất.
4. Thiết kế câu hỏi kiểm tra theo 06 mức độ nhận thức trong bài học
Nhận biết:
Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây. Điều đó có nghĩa là một người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp. Đây là mức độ, yêu cầu thấp nhất của trình độ nhận thức thể hiện ở cho học sinh có thể và chỉ cần nhớ hoặc nhận ra khi được đưa ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm, một sự vật. một hiện tượng. Học sinh phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải thích và vận dụng được chúng.
Có thể cụ thể hóa mức độ nhận biết
bằng các phương thức:
Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất.
Nhận dạng (không cần giải thích) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản.
Liệt kê, xác định các vị trí tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu tố.
Thông hiểu:
Là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, hiện tượng, sự vật ; giải thích được, chứng minh được ; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà học sinh đã học hoặc đã biết. Điều đó có thể thể hiện bằng việc chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác, bằng cách giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng).
Có thể cụ thể hóa mức độ thông hiểu
bằng các phương thức:
Diễn tả bằng ngôn ngữ cá nhân về khái niệm, định lí, định luật, tính chất, chuyển đổi được từ hình thức ngôn ngữ này sang hình thức ngôn ngữ khác (ví dụ, từ lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại).
Biểu thị, minh hoạ, giải thích được ý nghĩa của các khái niệm, định nghĩa, định lí, định luật.
Lựa chọn, bổ sung, sắp xếp lại những thông tin cần thiết để giải quyết một vấn đề nào đó.
Sắp xếp lại lời giải bài toán theo cấu trúc lôgic.
Vận dụng:
Là khả năng sử dựng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới :
Vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra ;
Là khả năng đòi hỏi học sinh phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó. Yêu cầu áp đụng được các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lí, định lí, định luật, công thức để giải quyết một vấn đề trong học tập hoặc của thực tiễn. Đây là mức độ thông hiểu cao hơn mức độ thông hiểu trên.
Có thể cụ thể hóa mức độ vận dụng bằng các phương thức
So sánh các phương án giải quyết vấn đề.
Phát hiện lời giải có mâu thuẫn, sai lầm và chỉnh sửa được.
Giải quyết được những tình huống mới bằng cách vận dụng các khái niệm, định lí, định luật, tính chất đã biết.
Khái quát hoá, trừu tượng hoá từ tình huống quen thuộc, tình huống đơn lẻ sang tình huống mới, tình huống phức tạp hơn.
Phân tích :
Là khả năng phân chia một thông tin ra thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng.
Yêu cầu chỉ ra được các bộ phận cấu thành, xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận, nhận biết và hiểu được nguyên lí cấu trúc của các bộ phận cấu thành. Đây là mức độ cao hơn vận dụng vì nó đòi hỏi sự thấu hiểu cả về nội dung lẫn hình thái cấu trúc của thông tin, sự vật, hiện tượng.
Có thể cụ thể mức độ phân tích bằng các phương thức
Phân tích các sự kiện, dữ kiện thừa, thiếu hoặc đủ để giải quyết được vấn đề.
Xác định được mối quan hệ giữa các bộ phận trong toàn thể.
Cụ thể hoá được những vấn đề trừu tượng.
Nhận biết và hiểu được cấu trúc các bộ phận cấu thành.
Tổng hợp:
Là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới.
Yêu cầu tạo ra được một chủ đề mới, một vấn đề mới. Một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ do phân lớp thông tin). Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh vào các hành vi sáng tạo, đặc biệt là trong việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới.
Có thể cụ thể hoá mức độ tổng hợp bằng các phương thức
Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh.
Khái quát hoá những vấn đề riêng lẻ cụ thể.
Phát hiện các mô hình mới đối xứng, biến đổi, hoặc mở rộng từ mô hình đã biết ban đầu.
Đánh giá:
Là khả năng xác định giá trị của thông tin : bình xét, nhận định, xác định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức. Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng. Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định. Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích) và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí.
Yêu cầu xác định dược các tiêu chí đánh giá và vận dụng được để đánh giá. Đây là mức độ cao nhất của nhận thức vì nó chứa đựng các yếu tố của mọi mức độ nhận thức trên.
Có thể cụ thể hoá mức độ đánh giá bằng các phương thức
Phân tích những yếu tố, dữ kiện đã cho để đánh giá sự thay đổi về chất của sự vật, sự kiện.
Nhận định nhân tố mới xuất hiện khi thay đổi các mối quan hệ cũ.
Đánh giá, nhận định giá trị của các thông tin, tư liệu theo một mục đích yêu cầu xác định.
Xác định được các tiêu chí đánh giá khác nhau và vận dụng để đánh giá thông tin, sự vật, sự kiện.
Các dạng trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm đúng - sai
Trắc nghiệm điền khuyết
Trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi (ghép đôi)
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Trắc nghiệm nhiều lựa chọn
Người ta thường dùng trắc nghiệm nhiều lựa chọn để làm đề thi cho các kỳ thi có đông thí sinh và cần chấm bằng máy với tốc độ cao.
Đặc điểm nhận biết: là trắc nghiệm bao gồm hai phần
- Phần mở đầu (phần dẫn) : Nêu vấn đề và cách thực hiện, cung cấp thông tin cần thiết hoặc nêu câu hỏi.
Phần thông tin: Nêu các câu trả lời (các phương án) để giải quyết vấn đề, trong các phương án này, học sinh phải chỉ ra được phương án đúng (các phương án được đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D).
Đề trắc nghiệm nhiều lựa chọn phải đảm bảo
Chỉ nên dùng 4 phương án chọn.
Có một phương án chọn là đúng.
Phương án đúng phải được sắp xếp theo thứ tự ngẫu nhiên.
Các phương án sai phải hợp lí.
Câu dẫn nối liền với mọi phương án chọn theo đều phải đúng ngữ pháp.
Tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là phủ định hai lần.
Không nên có phương án "Không phương án nào trên đây đúng" hoặc "Mọi phương án trên đây đều đúng".
Không tạo phương án đúng khác biệt so với các phương án khác (dài hơn hoặc ngắn hơn, mô tả tỉ mỉ hơn,...).
Không tạo các phương án nhiễu ở mức độ cao hơn so với phương án đúng.
Không đưa quá nhiều thông tin không thích hợp vào trong phần dẫn tạo nên sự hiểu lệch yêu cầu.
Thảo luận nhóm (45 phút)
Tìm được các khái niệm trong một bài cụ thể và phân biệt:
Khái niệm cũ
Khái niệm mới
Khái niệm cần phát triển trong chương trình
Thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn theo 3 mức độ nhận thức (Bloom):
Nhận biết (1 câu)
Thông hiểu (1 câu)
Vận dụng (1 câu)
(Theo SGK Sinh học THPT)
KẾT LuẬN
Xuất phát từ quan điểm Khái niệm là “thức ăn” của tư duy, người học có thể nhận thức được từng khái niệm cụ thể có trong chương trình theo các mức độ nhận thức (06) từ thấp đến cao.
Đối với người học của chương trình GDTX cấp THPT, đặc biệt chú ý đến 3 mức độ:
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Thảo luận nhóm (45 phút)
Nghiên cứu Bài 1. Gen, mã di truyền và quá trình nhân đôi để:
Liệt kê các khái niệm sinh học trong bài ?
Phân loại các khái niệm thành các nhóm:
Khái niệm HS đã biết (được học ở các bài cũ)
Khái niệm mới
Khái niệm cần được phát triển ở trong chương trình
Thảo luận nhóm (45 phút)
3. Tìm trong bài học những kiến thức liên quan đến thực tiễn đời sống; cách vận dụng những kiến thức đó trong thực tiễn ?
4. Thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn theo 06 mức độ khác nhau ?
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓






Các ý kiến mới nhất